LIÊN KẾT PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM CÔNG NGHIỆP CHỦ LỰC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Date: - View: 685 - By:

TS Huỳnh Thanh Điền

 

Phát triển công nghiệp cần đặt trong chiến lược tổng thể phát triển kinh tế - xã hội. Trong chiến lược phát triển tổng thể, Thành phố Hồ Chí Minh đảm bảo vai trò của trung tâm phân phối, kết nối giao thương của doanh nghiệp trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với bên ngoài, cung cấp giải pháp công nghệ, đào tạo nhân lực, dịch vụ y tế chất lượng cao cho các địa phương lân cận. Theo đó, chiến lược phát triển công nghiệp cần tập trung nhóm sản phẩm thuộc công đoạn đầu cuối, nghiên cứu phát triển công nghệ sản xuất cho các ngành và các sản phẩm phụ trợ với giá trị gia tăng cao, việc sản xuất đòi hỏi công nghệ cao. Các khâu nguyên liệu thô, cung ứng phụ trợ thâm dụng lao động, sản xuất với công nghệ giản đơn,… cần liên kết với các vệ tin lận cận. Thành phố Hồ Chí Minh cần xây dựng đội ngũ doanh nghiệp mạnh trong sản xuất sản phẩm chủ lực lãnh đạo chuỗi giá trị của ngành và liên kết với doanh nghiệp vệ tinh ở các địa phương để cung ứng nguyên vật liệu, sản phẩm phụ trợ. Chính quyền thành phố cần kiến tạo các chương trình trợ giúp, tiếp sức cho doanh nghiệp lãnh đạo chuỗi giá trị ngành liên kết với vệ tinh lân cận, cũng như đầu tư hạ tầng, dịch vụ hỗ trợ thúc đẩy phát triển theo đúng định hướng.

(Hội thảo "Xây dựng chương trình sản phẩm công nghiệp chủ lực Thành phố Hồ Chí Minh" - Sở Công thương TPHCM tổ chức ngày 25/07/2018)

1. Thực trạng nền công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh

TPHCM có nhiều điều kiện để trở thành địa phương giữ vai trò “đầu tàu” về kinh tế nhờ vị trí thuận lợi, hội tụ được dịch vụ hỗ trợ hoạt động sản xuất của doanh nghiệp (DN) như sân bay, cảng biển, các khu công nghiệp, trung tâm thương mại, dịch vụ tài chính, trường học, viện nghiên cứu, bệnh viện... Theo đó, nhiều DN ở các địa phương khác trong cả nước chọn TP là nơi tiêu thụ hàng hóa. Tuy nhiên, những năm gần đây, hệ thống phân phối của nội địa ngày càng thu hẹp, thay vào đó là hệ thống phân phối nước ngoài đang mở rộng, nên việc tiêu thụ hàng hóa của DN nội ở các tỉnh khác tại TPHCM ngày càng gặp nhiều khó khăn.

Mặc dù TPHCM tập trung nhiều DN có quy mô lớn nhất trong cả nước, nhưng các DN này chưa chú trọng đến việc phát triển mạng lưới cung ứng vệ tinh ở các địa phương trong nước, mà đa phần nhập hàng hóa trung gian từ nước ngoài. Do vậy, chưa phát huy được vai trò đầu tàu, chưa tạo ra được nhu cầu cho DN nhỏ ở các địa phương khác phát triển. Bên cạnh đó, DN ở TPHCM duy trì khá lâu phương thức sản xuất gia công, rất ít DN làm chủ được thiết kế, thương hiệu nên năng suất lao động, hiệu quả kinh tế thấp hơn nhiều quốc gia trong khu vực.

Vì thế, nền kinh tế vẫn còn phát triển theo chiều rộng, chưa tập trung phát triển theo chiều sâu dựa trên nền tảng công nghệ. Tăng trưởng công nghiệp, thương mại chưa bền vững, có dấu hiệu suy giảm và phụ thuộc lớn vào doanh nghiệp FDI. Năng lực cạnh tranh của DN trong nước còn nhiều hạn chế, DN nhỏ và vừa với sức cạnh tranh yếu, thị trường đầu ra chưa ổn định, thiếu liên kết với DN lớn lại chiếm tỷ trọng lớn. Đây cũng chính là nỗi lo đằng sau những thành tựu thu hút được nhiều FDI sử dụng công nghệ cao. Bởi vì DN FDI thiếu vệ tinh cung ứng thì họ không thể bám rễ được.

Ngoài ra, theo lộ trình hội nhập với các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, từ năm 2015, Việt Nam đã mở cửa hoàn toàn thị trường bán lẻ. Nhiều tập đoàn, thương hiệu bán lẻ hàng đầu thế giới đã thâm nhập vào TPHCM. Họ sẽ có nhiều bước đi từng bước chiếm dần thị phần, đặt ra rào cản từ chối hàng nội địa khiến hàng trong nước mất dần thị trường ngay trên sân nhà. DN trong nước cũng vì thế gặp nhiều khó khăn hơn. Những bất ổn này là biểu hiện của nền công nghiệp thiếu nền tảng và dễ dẫn đến khủng hoảng bất ngờ cho kinh tế.

Bên cạnh đó, những yếu kém trong sản xuất nguyên liệu, linh kiện, phụ tùng (gọi chung là công nghiệp hỗ trợ) để hỗ trợ cho sản xuất sản phẩm đầu cuối dẫn đến phát triển thiếu bền vững. Phần lớn các loại nguyên liệu đầu vào phải nhập khẩu với tỷ trọng cao trong hầu hết các ngành công nghiệp như thép kỹ thuật, hợp kim, nhựa (hỗ trợ cho cơ khí, điện tử), nguyên liệu chế biến dược phẩm (hỗ trợ cho hóa dược, nhựa, cao su), thuốc nhuộm, vải cao cấp (hỗ trơ trợ cho dệt may)… Do vậy, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm đầu cuối chủ yếu sản xuất các sản phẩm với tiêu chuẩn kỹ thuật thấp, sử dụng công nghệ đơn giản để phục vụ cho thị trường nội địa; sản xuất sản phẩm xuất khẩu chủ yếu được đảm nhận bởi các doanh nghiệp FDI.

Nguyên nhân của những tồn tại nêu trên là do chưa hình thành được “cụm liên kết ngành mở” trong quá trình phát triển. Các DN của TP hoạt động khá rời rạc, chưa kết nối được với nhau thành chuỗi để hỗ trợ nhau trong phạm vi TP lẫn các địa phương khác. Các ngành thâm dụng lao động như dệt may, da giày, cơ khí đơn giản, lương thực thực phẩm mất dần ưu thế trong tương lai, do đó cần cân nhắc phát triển những ngành này theo các công đoạn mà TP có lợi thế (như thiết kế, công nghiệp công nghệ cao, cơ khí chính xác có trình độ tự động hóa cao, điện tử và công nghệ thông tin).

Cạnh đó, các dịch vụ hỗ trợ sản xuất của DN cũng chưa hoàn thiện, nên chưa tạo nền tảng vững chắc cho phát triển các ngành công nghiệp của TP. Hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, nhất là giao thông, nước… lại đang chịu sức ép quá tải trong khi ngân sách, nguồn lực cho đầu tư phát triển hạ tầng chưa tương xứng. Quỹ đất phát triển công nghiệp TP đang dần trở nên khan hiếm.

Ngoài ra, việc đầu cơ bất động sản ngày càng gia tang (nắm giữ bất động sản chờ tăng giá để bán kiếm lời) đã gây ra sự kém hiệu quả trong sử dụng đất đai, gây chi phí mặt bằng sản xuất lớn cho doanh nghiệp sản xuất công nghiệp của Thành phố. Đầu cơ thường phổ biến trong các thị trường kém hiệu quả, như thiếu minh bạch về thông tin, tồn tại sự thao túng của các nhóm lợi ích. Những ai có thông tin trước thường thực hiện hành vi đầu cơ. Thêm nữa, chính sách điều tiết kinh tế kém hiệu quả là nguyên nhân chính khiến hành vi đầu cơ trở nên phổ biến. Chẳng hạn như hành vi đầu cơ được thực hiện dễ dàng, không bị đánh thuế; môi trường kinh doanh đối với các hoạt động đầu tư thực khó khăn hơn hoạt động đầu cơ; dòng tín dụng vào hoạt động đầu cơ dễ giải ngân hơn đối với sản xuất kinh doanh thực. 

Khi nhận thấy cơ hội kiếm tiền từ đầu cơ dễ hơn các hoạt động đầu tư thực,  nhiều người sẽ đổ xô vào hoạt động đầu cơ. Thậm chí, nhiều DN từ bỏ hoạt động sản xuất kinh doanh thực để đầu cơ với hy vọng kiếm được lợi nhuận nhanh hơn, cao hơn. Khi giải ngân cho vay vào hoạt động đầu cơ dễ dàng hơn và mang lại nhiều lợi nhuận cho các tổ chức tín dụng, thì họ sẽ có khuynh hướng cho vay đầu cơ nhiều hơn. Chẳng hạn như người đầu cơ dùng bất động sản đầu cơ với tiềm năng tăng giá nhanh để thế chấp, thì tổ chức tín dụng sẽ mạnh dạn giải ngân hơn so với các DN thế chấp bằng máy móc thiết bị (vì bị hao mòn hữu hình lẫn vô hình).

Mặt khác, các DN lớn của TP cũng chưa đủ khả năng phát triển vệ tinh phụ trợ riêng cho mình, chưa đủ năng lực để lựa chọn DNNVV có đủ điều kiện để chuyển giao công nghệ, hỗ trợ vốn, cơ sở hạ tầng sản xuất, bao tiêu sản phẩm. Do vậy, mối quan hệ giữa DN lớn với DNNVV trong cùng ngành chẳng những không bổ sung, hỗ trợ cho nhau; mà trái lại còn cạnh tranh, triệt tiêu lẫn nhau. Đây là một nghịch lý của quá trình phát triển công nghiệp ở nước ta.

Trong khi đó, cơ chế chính sách chưa thật sự khuyến khích DN lớn phát triển vệ tinh trong nước. Thay vào đó, các chính sách tập trung khuyến khích xuất khẩu càng tạo điều kiện cho doanh nghiệp FDI thâm nhập sâu hơn vào ngành công nghiệp quốc gia. Điều này thể hiện rất rõ khi đóng góp của doanh nghiệp FDI vào kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam với tỷ trọng ngày càng tang. Với chính sách đó, đã tạo ra tác động “lấn át” của DN FDI đối với các DN trong nước.

DN FDI của các tập đoàn đa quốc gia ngày càng thâm nhập sâu vào lĩnh vực sản xuất công nghiệp, thương mại, phân phối trong nước. Tuy nhiên, hệ thống cung ứng phụ trợ của họ nằm ở nước ngoài, hoặc lôi kéo thêm DN FDI để thực hiện hệ thống cung ứng “kép kín”, các DNNVV trong nước khó có cơ hội để tiếp cận được các FDI. Do vậy, nền tảng công nghiệp phụ trợ nội địa chậm hình thành. Kéo theo hệ lụy là doanh nghiệp FDI cũng không thể “bám rễ” được ở Việt Nam do thiếu nền tảng công nghiệp phụ trợ. DN FDI có thể sẽ di chuyển nhà máy bất cứ lúc nào, nếu chính sách ưu đãi không còn hoặc nhận thấy chính sách ưu đãi ở nơi khác tốt hơn.

Dưới áp lực “lấn át” của các doanh nghiệp FDI, các DN lớn trong nước có giai đoạn phân tán theo hướng kinh doanh đa ngành, dàn trải dòng vốn đầu tư theo trào lưu, nhất là đầu tư vào thị trường bất động sản, mà không chuyên sâu vào lĩnh vực kinh doanh cốt lõi nên ngày càng mất vai trò dẫn dắt trong nền kinh tế. Rất ít trường hợp DN lớn chủ động lựa chọn DNNVV để thực hiện hỗ trợ hạ tầng sản xuất, hướng dẫn công nghệ sản xuất sản phẩm phụ trợ để bao tiêu sản phẩm.

 

2. Định hình sản phẩm công nghiệp chủ lực

Trong chiến lược phát triển, TP cần xac định vai trò “đầu tàu” về kinh tế theo nguyên tắc nhất quán là “sự phát triển của mình có tác động lôi kéo sự phát triển của các địa phương lân cận”. Để đảm nhận được vai trò đó, TP phải đầu tư để hội đủ các điều kiện về dịch vụ hỗ trợ DN như trung tâm thương mại, phân phối hàng hóa, dịch vụ tài chính, viễn thông, vận chuyển, kho bãi; các cơ sở đào tạo nhân lực và nghiên cứu công nghệ như trường học, viện nghiên cứu; các dịch vụ như bệnh viện, khu du lịch, lưu trú và giải trí. Muốn vậy, cần thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị của các ngành công nghiệp theo hướng liên kết vùng nhằm phát huy lợi thế so sánh của TPHCM. Các hoạt động liên kết dựa trên nguyên tắc đảm bảo tính kết nối, đảm bảo khả năng lan tỏa công nghệ của DN TPHCM về các địa phương khác.

Để tạo ra nền tảng vững chắc cho phát triển công nghiệp, TP nên xác định công đoạn cần tập trung trong chuỗi giá trị của mỗi ngành công nghiệp ưu tiên phát triển. TP nên đảm nhận khâu nghiên cứu giải pháp công nghệ, thiết kế, sản xuất sản phẩm công phụ trợ đòi hỏi công nghệ cao để tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, lắp ráp sản phẩm đầu cuối và phân phối. Đây là những công đoạn có giá trị gia tăng cao, việc sản xuất chúng đòi hỏi công nghệ cao, nhân lực chất lượng cao, thân thiện với môi trường… Việc phát triển sản xuất các sản phẩm này có tác động lan tỏa đến sự phát triển của các ngành kinh tế khác và kết nối được vệ tinh cung ứng thuộc TP và các vùng lân cận. Các khâu nguyên liệu, công nghiệp hỗ trợ thâm dụng lao động trình độ thấp, việc sản xuất chúng không đòi hỏi công nghệ cao… có thể liên kết với DN ở các địa phương lân cận để phát huy sức mạnh của cả vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghiệp chủ lực của TP cần hướng đến năng lực cạnh tranh toàn cầu đảm bảo có hệ thống phân phối hiệu hiệu quả, thích ứng nhanh với sự thay đổi của môi trường kinh doanh, công nghệ tinh vi, luôn cập nhật những phát minh sang chế. Đồng thời, đây cũng là những sản phẩm ưu tiên khuyến khích sản xuất trong chính sách của chính phủ.

Căn cứ vào các tiêu chí đó, sản phẩm công nghiệp chủ lực cho từng nhóm ngành đề xuất như sau: 

- Dệt may và da giày: Sản phẩm chủ lực tập trung ở công đoạn khâu thiết kế, logistics, thương mại, các khâu hoàn tất vải bởi các công đoạn này đòi hỏi trình độ nhân lực cao, thân thiện với môi trường. Các công đoạn nguyên liệu như sợi-dệt nhuộm hoàn tất và thuộc da sẽ bố trí theo hướng liên kết vùng hoặc thu hút DN FDI có trình độ công nghệ cao.

- Cơ khí và hoá nhựa cao su: Sản phẩm chủ lực của hai nhóm ngành cơ khí và hoá nhựa cao su liên quan đến hầu hết cho các ngành còn lại. TP cần tập trung vào nghiên cứu, thiết kế dây truyền công nghệ sản xuất cho các ngành công nghiệp và một số sản phẩm phụ trợ tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, được sản xuất với công nghệ cao, lao động chất lượng cao, than thiện môi trường. Các sản phẩm phụ trợ còn lại và nguyên vật liệu liên kết với vệ tin lân cận hoặc nhập khẩu..

- Điện tử với công nghệ cao cần được xác định là sản phẩm chủ lực của thành phố từ sản phẩm phụ trợ đến sản phẩm đầu cuối. Bởi việc sản xuất các sản phẩm này cần sự cung ứng phụ trợ của các ngành điện tử, cơ khí khuôn mẫu, hóa/cao su kỹ thuật với công nghệ cao. Việc xác định sản phẩm chủ lực của nhóm điện tử với công nghệ cao sẽ thúc đẩy các DN của TP và địa phương lân cận học hỏi và tiếp cận cận công nghệ khá tốt thong qua liên kết phát triển.

- Ngành chế biến tinh lương thực thực phẩm: xác định sản phẩm chủ lực thuộc công đoạn chế biến đầu cuối, thương mại. Trọng tâm vào thắt chặt tiêu chuẩn sản xuất nhằm đảm bảo vệ sinh an tòan thực phẩm và đáp ứng nguyên liệu chế biến đạt chuẩn “sạch” và có “chứng nhận kiểm nghiệm”. Các công đoạn nguyên liệu, giết mổ, sơ chế cần liên kết với với các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (Đồng Nai, Long An, Tiền Giang)

Sản phẩm công nghiệp chủ lực của thành phố Hồ Chí Minh

Sản phẩm, dục vụ tổng quát

Phụ trợ

Đầu cuối

Dịch vụ y tế, giáo dục

Điện tử, cơ khí và hoá nhựa cao su: Sản phẩm công nghiêp phụ trợ tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, được sản xuất với công nghệ cao, lao động chất lượng cao, than thiện môi trường.

Cơ khí:

Dây chuyền sản xuất,  máy móc thiết bị phục vụ cho chế biến, chế tạo cho các ngành

 

Trung tâm phân phối, dịch vụ tài chính, logistics

 

 

Nguyên liệu tinh chế được sản xuất với công nghệ cao, lao động chất lượng cao, thân thiện môi trường.

Chế biến tinh lương thực thực phẩm:

Sản phẩm đầu cuối của ngành chế biến tinh lương thực thực phẩm.

Sản phẩm công nghệ phục vụ sản xuất và thương mại các ngành kinh tế

Dệt may và da giày:

Sản phẩm thời trang thuộc công đoạn khâu thiết kế, logistics, thương mại, các khâu hoàn tất vải.

 

2. Phát triển “cụm liên kết ngành mở” và liên kết với doanh nghiệp FDI

Để phát triển sản phẩm công nghiệp chủ lực, TPHCM cần xây dựng các cụm ngành công nghiệp mở (Cluster Industries) theo hướng liên kết vùng nhằm phát huy lợi thế so sánh của TPHCM. Cần đảm bảo tính kết nối hiệu quả giữa các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm chủ lực của TP với doanh nghiệp vệ tinh ở các tỉnh lân cận, nhằm tạo sự lan tỏa công nghệ từ doanh nghiệp TP đối với các DN vệ tinh.

Quỹ đất phát triển công nghiệp của TPHCM dần trở nên khan hiếm nên cần rà soát lại quy hoạch lại các KCN, Khu Công nghệ cao theo hướng phát triển các cụm liên kết ngành cho sản xuất các sản phẩm chủ lực của TP.

Để giảm thiểu chi phí thuê mặt bằng cho doanh nghiệp, cần có cơ chế chính sách hỗ trợ chi phí đầu tư cho các công ty đầu tư hạ tầng để đổi lại sự ràng buộc về giá cho thuê thấp. Chẳng hạn như hỗ trợ đầu tư hạ tầng, giải phóng mặt bằng từ nguồn kinh phí thuộc chương trình kích cầu của Thành phố; được tăng mật độ xây dựng ở mức độ cho phép và chấp nhận được. Khi nhà đầu tư hạ tầng nhận hỗ trợ trong đầu tư xây dựng hạ tầng cần phải chịu các ràng buộc về giá cho thuê phải được quyết định bởi Hội đồng Thẩm định của Thành phố; Doanh nghiệp vào đầu tư phải đúng đối tượng.

Để các Cụm ngành công nghiệp hoạt động hiệu quả, cần thực hiện các giải pháp kết nối giữa doanh nghiệp sản xuất đầu cuối với doanh nghiệp phụ trợ. Trong bối cảnh hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất đầu cuối của TPHCM chủ yếu là FDI nên có giải pháp kết nối doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp sản xuất hỗ trợ. Các biện pháp thúc đẩy mối liên kết này như sau:

- Tiếp tục phát huy hiệu quả công thông tin công nghiệp hỗ trợ của TPHCM để kết nối dữ liệu với Ban Quản lý Khu công nghệ cao, Ban Quản lý các khu chế xuất - khu công nghiệp, Trung tâm Xúc tiến thương mại và đầu tư, Hiệp hội Doanh nghiệp Thành phố.

- Tiếp tục hợp tác với các hiệp hội công nghiệp hỗ trợ của các nước để thực hiện kết nối cung cầu giữa doanh nghiệp nội địa – FDI; Tổ chức gắn kết giữa các doanh nghiệp công nghiệp CNHT, giữa doanh nghiệp CNHT với doanh nghiệp sản xuất lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh, các tập đoàn đa quốc gia.

- Xúc tiến các chương trình hợp tác giữa Thành phố với các tỉnh/thành trong nước (đặc biệt đối với vấn đề nguồn nguyên liệu, sản phẩm CNHT cho sản phẩm chủ lực của TP. Nhất là quy hoạch vùng nguyên liệu, quy hoạch phát triển ngành, sản phẩm công nghiệp hỗ trợ,… nhằm tránh tình trạng đầu tư, thu hút đầu tư trùng lắp, gây lãng phí, triệt tiêu động lực phát triển của nhau.

- Xây dựng cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp phát triển vệ tinh cung ứng phụ trợ trong nước và phát triển hệ thống nhà cung ứng nội địa.

3. Thu hút FDI tạo nền tảng công nghiệp

Hướng đến mục tạo nền tảng công nghiệp vững chắc, phương châm xuyên suốt là thúc đẩy doanh nghiệp FDI là ăn sâu, bám rễ tại TP. Cần xác định cấu trúc chuỗi giá trị của mỗi ngành và đánh giá khả năng, mức tham gia của doanh nghiệp bản địa, từ đó xác định lĩnh vực cần ưu tiên thu hút FDI. Ưu tiên thu hút FDI có khả năng bổ khuyết cho nền kinh tế hoặc những khâu giữ vai trò dẫn dắt chuỗi giá trị của ngành mà doanh nghiệp bản địa không đảm đương được (hạn chế các FDI có tác động chèn lấn doanh nghiệp bản địa). Với định hướng đó, dễ dàng thúc đẩy các FDI hợp tác với doanh nghiệp bản địa hoặc lôi kéo thêm vệ tinh cung ứng đi theo.

Theo đó, TP sẽ thu hút được doanh nghiệp FDI thế hệ mới với công nghệ cao, thân thiện với môi trường, năng suất cao,… Từ đó, sẽ tạo ra nhu cầu về lao động chất lượng cao để người dân có cơ hội làm việc với mức lương cao, nâng cao trình độ công nghệ và quản trị. Người lao động là nhân tố tạo ra sự lan toả về công nghệ kỹ thuật và quản lý. Khi người lao động có kinh nghiệm làm thuê cho FDI, họ có thể mang kinh nghiệm này đến lan toả cho doanh nghiệp trong nước. Đây cũng là một trong những biện pháp góp phần lan toả giá trị tiến bộ của FDI cho nền kinh tế.

Trọng tâm của chính sách thu hút FDI là tạo lập môi trường kinh doanh thông thoáng,  kết nối hạ tầng, nhân lực, hệ thống cung ứng, dịch vụ công, logistics, … giúp doanh nghiệp thuận lợi trong sản xuất kinh doanh. Để tạo ra được sự cộng hưởng giữa FDI với doanh nghiệp bản địa, cần có chính sách thúc đẩy các doanh nghiệp FDI phát triển mạng lưới cung ứng vệ tinh với các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đồng thời thực hiện các chính sách trợ giúp doanh nghiệp bản địa nâng cao năng lực quản trị, mang tư duy toàn cầu về tiêu chuẩn, thị trường, công nghệ, nhân lực,… mới có thể liên kết với FDI, gia nhập vào mạng lưới cung ứng toàn cầu. Bên cạnh đó, cần xem xét lại tác động của chính sách ưu đãi về thuế, chi phí mặt bằng đối với FDI và chú trọng quản lý nguồn thuế, chống chuyển giá.

4. Phát huy vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp lớn sản xuất sản phẩm chủ lực

Trong thời gian qua, chiến lược phát triển công nghiệp của TP chưa định hình rõ nét vai trò dẫn dắt của các doanh nghiệp (DN) lớn. Do vậy, các cơ chế, chính sách phát triển công nghiệp thường không rõ địa chỉ trung tâm để triển khai, chưa định hình được mối liên kết giữa DN lớn với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV)… là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự rời rạc, thiếu nền tảng của các ngành công nghiệp; làm chậm tiến trình công nghiệp hóa đất nước.

TP cần xây dựng được hệ thống các DN lớn trong sản xuất sản phẩm chủ lực, đủ vai trò dẫn dắt trong các ngành kinh tế, đảm nhận khâu nghiên cứu, hoàn thiện sản phẩm lẫn phân phối và có mối liên kết chặt chẽ với các DN ở các địa phương. DN lớn giữ vai trò trung tâm trong phát triển khoa học công nghệ, việc sản xuất kinh doanh của DN lớn luôn tạo ra nhu cầu cho các DNNVV tham gia sản xuất, cung ứng sản phẩm trung gian, dịch vụ hỗ trợ. DN lớn là chỗ dựa để DNNVV phát triển, khi có nhu cầu về một sản phẩm trung gian hay dịch vụ hỗ trợ, DN lớn có thể tìm đến DNNVV có điều kiện thích hợp để hướng dẫn công nghệ, hỗ trợ hạ tầng sản xuất, thậm chí giúp vốn cho DNNVV thực hiện sản xuất nhằm cung ứng cho họ.

Để thúc đẩy mối liên kết DN lớn của TP với DNNVV trong và ngoài TP, cần xây dựng cơ chế khuyến khích các DN phát triển vệ tinh cung ứng hỗ trợ ở trong nước và quốc tế. Đặc biệt là việc quy hoạch vùng nguyên liệu, quy hoạch phát triển ngành, sản phẩm công nghiệp hỗ trợ… nhằm tránh tình trạng đầu tư, thu hút đầu tư trùng lắp, gây lãng phí, triệt tiêu động lực phát triển của nhau.

Cần xây dựng bộ tiêu chí cụ thể để hàng năm đánh giá, bổ sung danh sách các DN giữ vai trò dẫn dắt, để có những chính sách phát triển riêng. Mọi quyết sách liên quan đến phát triển công nghiệp của ngành được thực hiện chủ yếu bởi DN lớn dẫn dắt DNNVV cùng thực hiện. Các chính sách thúc đẩy, hỗ trợ DN theo hướng ưu tiên cho các hoạt động có sự liên kết giữa DN lớn với DNNVV chẳng hạn như: DN lớn chuyển giao công nghệ sản xuất phụ trợ cho DNNVV; DN lớn hỗ trợ hạ tầng, trợ giúp vốn, nhân lực tay nghề cao cho DNNVV để sản xuất phụ trợ…Cạnh đó, thúc đẩy hình thành các mối liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp dẫn dắt với các trường/viện phù hợp với từng ngành trong việc nghiên cứu chuyển giao công nghệ, đào tạo cung ứng nguồn nhân lực. Các sản phẩm sáng tạo từ các hoạt động liên kết này cần được hỗ trợ của chính sách dưới hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp.

Tiếp đó, TP cần triển khai đồng bộ các chương trình thúc đẩy DN sản xuất, cung ứng phụ trợ, dịch vụ hỗ trợ cho lĩnh vực ưu tiên. Trước hết là triển khai các chương trình phát triển hạ tầng phục vụ sản xuất, dịch vụ hỗ trợ cho cung ứng, sản xuất, phân phối sản phẩm. Kế đến là tạo cơ chế thúc đẩy nghiên cứu phát triển công nghệ, sáng tạo ra kênh huy động vốn cho DN. Đồng thời tích cực triển khai các chương trình hỗ trợ DN như cung cấp thông tin về hội nhập, thị trường, đào tạo nhân lực, mặt bằng sản xuất… Quan trọng nhất là tạo ra khuôn khổ và thúc đẩy DN hướng đến tiêu chuẩn toàn cầu để tận dụng cơ hội xuất khẩu từ hội nhập.

Các chính sách thúc đẩy phát triển sản phẩm, dịch vụ ưu tiên cần được cụ thể thành những chương trình, dự án. Chẳng hạn như phát triển các trung tâm giao dịch nguyên phụ liệu, sàn giao dịch hàng hóa, cổng thông tin kết nối giữa DN hỗ trợ với DN đầu cuối; phát triển thương mại điện tử, chính quyền điện tử, phổ biến các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và chỉ dẫn phương pháp giúp DN tận dụng được cơ hội. Với cơ chế đặc thù, TP có thể vận dụng để huy động nguồn lực từ xã hội để đẩy nhanh tiến độ triển khai các chương trình phát triển hạ tầng phục vụ sản xuất kinh doanh cho DN và người dân.

5. Chính sách trợ giúp DN phát triển

Các chính sách hỗ trợ DN phát triển thường đề cập đến các khía cạnh về tiếp cận thị trường, vốn, công nghệ, đào tạo nhân lực, mặt bằng. Các chính sách trợ giúp được thực hiện thông qua cơ chế thúc đẩy mối liên kết giữa các chủ thể DN đầu cuối - DN phụ trợ, DN - trường/viện, DN - ngân hàng và các tổ chức cung cấp vốn. Trong các mối liên kết đó, các hội DN ngành nghề thường giữ vai trò cầu nối; Nhà nước giữ vai trò tạo cơ chế khuyến khích liên kết. TP cần tạo ra cơ chế trợ giúp DN thông qua tạo sự kết nối này nên tập trung vào các khía cạnh:



- Đầu tiên là kết nối DN sản xuất phụ trợ với DN đầu cuối, thông qua việc nâng cao năng lực của các hội DN theo hướng giữ vai trò tập hợp các DN nhỏ và vừa để nói lên tiếng nói của họ, năng lực của họ, những gì họ có thể làm nhằm tạo lợi thế theo quy mô lớn để tiếp cận chuỗi sản xuất của các DN lớn; đồng thời sớm hình thành các cơ sở dữ liệu trung tâm kết nối cung cầu sản phẩm phụ trợ. Bởi hiện nay, các DN đầu cuối FDI còn e ngại khi đặt hàng vì tiềm ẩn nhiều rủi ro về chất lượng, tiến độ, số lượng nên đơn hàng sản xuất nhỏ, chủ yếu là làm thử, không tạo sự hấp dẫn cho từng DN nhỏ và vừa; còn DN nhỏ và vừa cung ứng phụ trợ thì không nắm được thông tin và các tiêu chuẩn sản phẩm từ các DN lớn.



- Việc liên kết giữa trường/viện với DN trong phát triển công nghệ và đào tạo nhân lực theo hướng các hội ngành nghề giữ vai trò tổng hợp các vấn đề cần nghiên cứu công nghệ, các yêu cầu về nhân lực từ DN để đặt hàng trường/viện/nhà khoa học. Trên cơ sở đó, trường/viện/nhà khoa học sẽ thực hiện các đề tài nghiên cứu; thiết kế chương trình, phát triển đội ngũ để đào tạo nhân lực đáp ứng nhu cầu của DN. Bởi vì hiện nay, việc phát triển khoa học công nghệ, đào tạo nhân lực đang là nỗ lực đơn phương của các trường/viện/nhà khoa học và cơ quan quản lý nhà nước về khoa học; trong khi đó, DN là đối tượng sử dụng kết quả nghiên cứu, sản phẩm đào tạo, song lại chưa tham gia vào tiến trình này.



- Liên kết giữa tổ chức tín dụng với DN thông qua các chương trình kết nối DN với ngân hàng bằng các chương trình cho vay tín chấp theo hướng các hiệp hội đảm nhận vai trò bảo lãnh uy tín trả nợ cho DN. Vì hiện nay các tổ chức tín dụng ngại cho DN vay vì thiếu tài sản đảm bảo, hạn chế trong chứng minh tính khả thi của dự án và khả năng trả nợ. Khi DN nhỏ và vừa được kết nạp vào hội, được hội phân chia cho thị phần và cơ hội kinh doanh nên đảm bảo các đơn hàng sản xuất của DN sẽ ổn định hơn. Nếu hội làm được như vậy thì tính khả thi của các chương trình kết nối ngân hàng vào DN sẽ được đảm bảo.

6. Tạo cơ hội để doanh nghiệp phát triển

Điều kiện cần cho mọi cơ hội phát triển của doanh nghiệp là nhu cầu mà DN có điều kiện và khả năng cung ứng. Thành phố có thể tạo ra nhu cầu này và định hướng cho DN trong nước cung ứng, qua đó giúp DN trong nước ngày càng lớn mạnh, đủ sức cạnh tranh toàn cầu.

Để thúc đẩy DN trong nước phát triển, vai trò kiến tạo cơ hội thông qua tạo nhu cầu thiết thực cho DN để tham gia sản xuất cung ứng là rất quan trọng. Có nhiều cách kiến tạo nhu cầu, trong đó cách tốt nhất là thông qua thực hiện các chương trình đầu tư công và các dự án đầu tư viện trợ/hỗ trợ ra nước ngoài để các DN trong nước tham gia, cụ thể:

Một là, kiến tạo nhu cầu: Trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng như đường bộ, đường sắt, đường biển, bến cảng, sân bay, hạ tầng viễn thông… hay các công trình mang tính thường nhật như xử lý rác, chống ngập, chống ô nhiễm không khí,… Chính phủ phải ưu tiên huy động các DN trong nước tham gia.

Hai là, thúc đẩy đổi mới công nghệ: nhu cầu lớn được tạo ra chính là động lực quan trọng để sáng tạo công nghệ. Khi đó, Chính phủ tiếp tục huy động các trường/viện thiết kế công nghệ rồi chuyển giao cho DN thi công/ sản xuất. Hay nói cách khác, Chính phủ và (hoặc) chính quyền địa phương giữ vai trò kết nối DN với trường/viện. Cách kiến tạo này vừa tạo cơ hội làm ăn cho DN, vừa thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ.

Ba là, tạo cơ hội phát triển kinh doanh ra bên ngoài: Trong các mối quan hệ quốc tế song phương, Chính phủ nên phân tích rõ: lĩnh vực nào mà DN nước ngoài cần khai thác ở nước mình, nhưng không phải là lợi thế khi sản xuất tại nước họ thì kêu gọi họ vào đầu tư. Đồng thời cũng xem hàng hóa nào thật sự cung ở nước họ không đủ thì đàm phán giảm thuế xuất; tìm cách đưa DN Việt thâm nhập vào thị trường nước họ bằng những chương trình cụ thể.

Bốn là, phát triển nguồn nhân lực: Chính phủ/chính quyền các địa phương định hướng các Hiệp hội là nơi tổng hợp các vấn đề yếu kém về nhân lực của DN, kết nối với các trường/viện để thiết kế chương trình đào tạo và thực hiện đào tạo cho phù hợp với nhu cầu thực của DN.

Năm là, xác lập quyền sở hữu tài sản để tạo vốn kinh doanh cho DN: tạo lập và đa dạng các kênh huy động vốn, công cụ huy động vốn cho DN. Bên cạnh đó, phải thực hiện nghiêm cơ chế xác lập quyền sở hữu tài sản (kể cả động sản và bất động sản) để DN có thể cầm cố, thế chấp để tạo vốn kinh doanh.

Vai trò của mình, Chính phủ/chính quyền địa phương không đơn thuần chỉ là quản lý nhà nước đối với các hoạt động trong nền kinh tế, mà cần kiến tạo cơ hội để thúc đẩy các chủ thể hoạt động có hiệu quả. Tạo cơ hội không chỉ dừng là ở mức độ ban hành và quản thực thi cơ chế, mà cần phải có những chương trình mang tính gợi ý, thu hút DN tham gia và đồng hành cùng DN trong mọi hoạt động.

7. Cải thiện môi trường kinh doanh và vận dụng cơ chế đặc thù

Trong thời gian qua có nhiều cơ chế chính sách trợ giúp doanh nghiệp. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận chính sách ưu đãi, hỗ trợ của doanh nghiệp còn hạn chế. Đồng thời, cơ chế quản lý nhà nước đối với hoạt động sản xuất kinh doanh vẫn chưa thật sự thông thoáng. Do vậy, cần tạo điều kiện kinh doanh thuận lợi, tháo gỡ trở ngại cho doanh nghiệp gia nhập thị trường, chính sách thu ngân sách cần tầm nhìn dài hạn, vận dụng cơ chế đặc thù để mang lại lợi ích cho doanh nghiệp.

TPHCM đang ráo riết triển khai thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP. Để việc thực hiện hiệu quả, đảm bảo cơ chế, chính sách đặc thù thực sự phát triển, TP cần  để người dân thấy được lợi ích từ cơ chế, chính sách này. Doanh nghiệp và người dân đang trông chờ các giải pháp sáng tạo từ cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TPHCM theo Nghị quyết 54 của Quốc hội, sao cho môi trường kinh doanh thông thoáng, có được nhiều cơ hội làm ăn hơn. 

Cơ chế đặc thù không phải là chính sách đặc biệt, nhưng sẽ giúp TP làm nhanh hơn một số việc kiến tạo phát triển và quản trị nhà nước. Một số vụ việc trước đây, thay vì phải chờ Trung ương quyết định, thì nay TP được quyền tự quyết. Vấn đề là quyền đó được cụ thể hóa như thế nào để người dân thấy được lợi ích? Không quá khó để trả lời câu hỏi đó. Hãy nhìn vào những mong đợi của dân sẽ có ngay đáp án, đó là cơ hội việc làm, tăng thu nhập, sống trong môi trường văn minh. Chỉ khi doanh nghiệp phát triển, người lao động (người dân) mới có việc làm, thu nhập và văn minh. Doanh nghiệp chỉ hoạt động tốt trong môi trường có dịch vụ công hỗ trợ, giao thông thuận lợi vận chuyển hàng hóa, chính quyền thông minh.

Mặt khác, mặt bằng sản xuất kinh doanh đang là trở ngại lớn đối với nhiều doanh nghiệp. Hiện nay, đầu tư ra ngoài TPHCM nhiều hơn đầu tư bên ngoài vào TP. Trong khi đó, chi phí thuê mặt bằng sản xuất của TP đang cao hơn nhiều so với các địa phương lân cận. Vì vậy, sử dụng cơ chế đặc thù liên quan đến quyết định sử dụng đất để quy hoạch lại mặt bằng, tạo quỹ đất sản xuất kinh doanh là việc nên làm.

Các dự án phương tiện giao thông công cộng dưới lòng đất, trên không; các khu sản xuất tập trung; các công trình chống ngập tổng thể… đều đã được quy hoạch nhưng việc triển khai quá chậm. Do đó, dùng cơ chế đặc thù để sáng tạo ra những giải pháp huy động vốn từ xã hội để đầu tư hạ tầng giao thông. Việc kêu gọi doanh nghiệp đồng hành tham gia có lẽ là giải pháp phù hợp nhất hiện nay. Bên cạnh đó, rà soát lại cơ chế đầu tư, từ khâu chuẩn bị đến thực hiện xem có công đoạn nào còn vướng thì sửa đổi, minh bạch mọi thứ. Đồng thời, cương quyết xử lý tham nhũng, loại bỏ những chi phí không chính thức trong đầu tư các dự án công… để dễ dàng thực hiện xã hội hóa, tạo vốn đầu tư, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông cũng như phát triển giao thông công cộng.

Mặc khác, với cơ chế đặc thù, TPHCM có thể vận dụng để tạo ra các kênh huy động vốn từ xã hội hóa hoặc phát hành trái phiếu chính quyền địa phương để tạo vốn. Việc vay vốn để đầu tư cho tương lai thì tương lai phải chịu trách nhiệm trả, nên chắc người dân sẽ ủng hộ. Quan trọng nhất là kiến tạo ra các dự án công vừa hấp dẫn tư nhân đầu tư vừa tạo ra tiện ích cho cộng đồng để khả thi khi thực hiện, góp phần phát triển văn minh đô thị.

(Tóm lược bài viết của TS Huỳnh Thanh Điền đăng trong kỷ yếu Hội thảo "Xây dựng chương trình sản phẩm công nghiệp chủ lực thành phố Hồ Chí Minh". Do Sở Công thương TPHCM tổ chức ngày 25/7/2018)

 

LIÊN KẾT
FANPAGE